Những chuyện ít biết về Bill Gates

Truyền thông thế giới đều có bài viết về Bill Gates, những giọt nước mắt khi ông chia tay Microsoft. Nhưng còn rất nhiều điều người ta chưa biết…

Con người Bill Gates

Khi Bill Gates học lớp 6, bố mẹ quyết định ông cần một bác sỹ tâm lý. Gates luôn tranh cãi với mẹ, bà Mary Maxwell Gates, người luôn tin rằng ông nên làm những gì bà bảo. Bà gọi ông xuống ăn cơm tối, và Gates không trả lời gì. “Con đang làm gì đấy”, bà Mary lại hỏi.

“Con đang suy nghĩ”, cậu bé Bill cáu kỉnh đáp.

“Đang suy nghĩ à?”

“Vâng, mẹ. Con đang suy nghĩ”, Gates nói giận dữ. “Mẹ chưa từng suy nghĩ à?”

Sau 1 năm, bác sỹ tâm lý nói với Mary: “Bà sẽ thua. Tốt hơn hết bà nên tự điều chỉnh, bởi không ích gì khi đánh cậu ta”. Mary là một người thông minh và mạnh mẽ, nhưng “bà cũng chấp nhận ý nghĩ không ích gì khi cố gắng đối đầu với Bill”.

Rất nhiều công ty máy tính cũng kết luận tương tự. Trong mấy chục năm kể từ khi Bill Gates bỏ học ở trường Harvard để khởi sự Microsoft, William Henry Gates III đã đánh bại các đối thủ trong giới hệ điều hành và phần mềm ứng dụng.

Thành công của Gates bắt nguồn từ tính cách của ông: một tính cách pha trộn mãnh liệt giữa sự thông minh, chăm chỉ, cật lực làm việc, cạnh tranh và mạnh mẽ. Microsoft cũng thế. “Tính cách của Bill Gates quyết định văn hóa của Micrsoft”, Nathan Myhrvold, bạn của ông nói. Mặc dù là người nổi tiếng trên thế giới, nhưng Gate vẫn khó hiểu với mọi người, trừ một số bạn thân.

“Tôi không nghĩ có gì đặc biệt về sự thông minh của con người”, Gates nói. Ngay cả khi ăn, ông cũng rất “đa năng”: Gates thuận cả hai tay, ông chuyển thìa, dĩa qua lại cả hai tay trong bữa ăn và dùng bất cứ tay nào khi nó rỗi.

Bill Gates thiếu tự tin và hay xấu hổ

Bố của Gates, ông William H. Gates, là một người đàn ông cao lớn và cởi mở, không như cậu con trai dáng người nhỏ và tính cách bí ẩn. Còn mẹ của Gates lại là người phụ nữ “phi thường”, bố Gates nói. Là con gái một ông chủ ngân hàng, Mary Maxwell Gates giỏi giang cả trong xã hội lẫn kinh doanh, làm nhiều chức vụ quan trọng trong các tổ chức nổi tiếng như Trường Đại học Washington…

Vậy nhưng Gates là cậu bé thiếu tự tin trong các giao tiếp xã hội, bố ông nói. “Tôi vẫn còn nhớ cậu ta (Gates) đã mất hẳn 2 tuần mới dám mời một bạn gái đi xem hòa nhạc, sau đó lại bị từ chối. Nhưng Mary lại khác. Bà là ngôi sao trong giao tiếp xã hội”.

“Chúng tôi trở nên lo lắng cho Gates khi cậu bắt đầu vào cấp II”, bố Gates nói. “Bill nhỏ bé và hay xấu hổ, rất cần bảo vệ, sở thích của cậu cũng rất khác biệt với các học sinh lớp 6 thông thường khác”.

Tự học ngôn ngữ BASIC với bạn của mình là Paul Allen, Trey (tên trong gia đình của Bill Gates) đã cho ra đời 2 lập trình khi đang học lớp 8. Trey và Paul nhanh chóng dành những buổi tối của họ tại một công ty ở địa phương, công ty đã mua một chiếc máy tính rất to và vẫn chưa phải trả tiền chỉ vì nó có lỗi. Để được “nghịch ngợm” máy tính, công việc của hai cậu bé Paul và Trey là cố gắng tìm ra lỗi trong máy. “Trey rất say mê”, bố Gates nhớ lại. “Sau khi chúng tôi đi ngủ, cậu bé đánh vật cả máy tính ra sàn nhà và dành gần cả đêm ở đó”.

Kinh doanh từ ngày học lớp 8

Khi học trung học, Gates và bạn bè đã khởi sự một công ty có lãi, phân tích và thống kê dữ liệu giao thông cho thành phố. “Hồi học lớp 9″, Gates nhớ lại, “Tôi không đạt điểm tốt, nhưng tôi quyết phải có mọi điểm A. Tôi không vào lớp học toán, bởi tôi đã biết hết và đã đọc trước hết cả. Rồi tôi lọt vào top 10 học sinh Mỹ trong một kỳ thi năng khiếu. Chính điều đó đã tạo ra sự độc lập trong tôi và dạy tôi rằng tôi không cần phải nổi loạn, chống đối”. Đến năm lớp 10, Gates đã dạy máy tính và viết lập trình về lịch học, một lập trình có chức năng bí mật luôn xếp ông vào lớp có những cô bạn gái thông minh, xinh đẹp.

Bạn thân nhất của Gates là Kent Evans, con trai của một nhà chính trị. “Chúng tôi đọc Fortune cùng nhau, chúng tôi sẽ chinh phục thế giới”, Gates nói. Cùng với Paul Allen, họ lập thành Nhóm Nhà lập trình nổi tiếng, và nhận việc viết hệ thống bảng lương cho một hãng tư nhân. Giữa họ đã xảy ra một cuộc tranh cãi lớn, khi Allen cố gắng “ôm” toàn bộ công việc. Nhưng Allen sớm nhận ra ông cần Gates – người làm việc không biết mệt – để viết mã. “OK”, Gates nói với Allen, “nhưng tôi sẽ phụ trách. Từ nay sẽ rất khó làm việc với tôi trừ phi tôi phải phụ trách mọi thứ”. Và ông đã đúng.

Để giảm bớt áp lực lập trình, Evans đi leo núi. Một ngày Gates nhận được tin: Evan đã bị ngã chết. “Tôi chưa bao giờ nghĩ về ai đó bị chết”, Gates nói. “Trong 2 tuần liền, tôi không thể làm gì”.

Sau đó, Gates trở nên gần gũi hơn với Paul Allen. Họ cùng học ngôn ngữ AI (artificial-intelligence – một môn khoa học về sự thông minh của con người trên máy tính). “Chúng tôi trở thành đối tác, bạn thân thực sự”, Gates nói. “Chúng tôi nói chuyện hàng giờ mỗi ngày”. Chính Allen đã thuyết phục Gates bỏ học ở trường Harvard để khởi nghiệp công ty phần mềm. Ban đầu họ đặt tên nó là Micro-Soft (sau khi xem xét tên gọi Allen & Gates Inc). Đây là một mối quan hệ nhiều sóng gió: Gates là người tham công tiếc việc và thích cạnh tranh, Allen là người mơ mộng và không thực tế.

Phong cách làm việc đặc biệt

CEO Microsoft hiện nay, Steve Ballmer, chính là người đã nuôi dưỡng mặt xã hội cho Gates, “lôi kéo” Gates gia nhập và các câu lạc bộ. “Ông ấy là người thông minh nhất tôi từng gặp” Ballmer nói.

Khi Microsoft bắt đầu phát triển vào năm 1980, Gates cần một người “phi công nghệ” thông minh để giúp điều hành mọi thứ, và ông đã “quyến rũ” Ballmer, lúc đó đang làm cho hãng Procter & Gamble. Giữa Ballmer và Gates cũng có những cuộc “khẩu chiến” mạnh mẽ như với Allen. “Lần cãi nhau đầu tiên là khi tôi khăng khăng cần tuyển thêm 17 người nữa”, Ballmer nhớ lại. “Gates đã cáu rằng tôi đang làm ông ấy phá sản”. Nguyên tắc của Gates là Microsoft luôn phải có đủ tiền trong ngân hàng để duy trì trong 1 năm khi không có doanh thu.

Ballmer nói Gates thích mọi người, kể cả cấp dưới, thách thức ông và khi ông bắt đầu la hét họ, nghĩa là ông tôn trọng họ. Một trong những câu nói yêu thích của Gates là “Đó là điều ngu ngốc nhất tôi từng nghe”, và các nạn nhân của câu nói này hiểu nó là một sự tôn trọng của Gates.

Gates gặp Melinda French tại một cuộc họp báo của Microsoft ở Manhattan. Cũng như Gates, Melinda thông minh và độc lập. Và cũng như mẹ của Gates, bà thân thiện và giao tiếp xã hội tốt, một tính cách dễ gần và dễ tổ chức các hoạt động. Nhưng Melinda bảo vệ sự riêng tư mạnh mẽ và hiếm khi cho phép báo chí phỏng vấn.

Điện thoại trong văn phòng của Gates hiếm khi đổ chuông. Ông làm việc theo 3 cách: xử lý 100 (hoặc hơn) email mỗi ngày (và đêm), thường cười khoái chí mỗi khi ông gửi 1 email đi; ông gặp gỡ các nhà quản trị cấp cao mỗi tháng; và quan trọng nhất: ông dành 70% lịch làm việc cho các sản phẩm, ông tổ chức 2 hoặc 3 cuộc họp nhỏ mỗi ngày với các nhóm nhân viên để khảo sát lại các sản phẩm khác nhau của công ty.

Khi được hỏi về những hối tiếc, Gates đã nói về việc không đưa những ứng dụng email của Microsoft ra thị trường nhanh hơn. “Chúng tôi quá bận rộn, và khi tôi viết những việc ưu tiên cần làm, ban giám đốc Microsoft đã nói tôi phải bớt đi, và chúng tôi đã bớt ưu tiên về email”.

Gates có 3 đứa con và từ hai năm trước, ông nói dự định để lại cho các con mỗi đứa 10 triệu USD và sau đó sẽ tập trung vào công việc từ thiện. Và cuối tháng 6 vừa qua, Bill Gates đã chính thức chia tay Steve Ballmer và Microsoft.

Mark Zuckerberg, người sáng lập Facebook

Ở tuổi 25, Mark Zuckerberg đã có trong tay 1 tỉ USD và là tỷ phú trẻ nhất góp mặt trong bảng danh sách 400 tỷ phú của Forbes. Mark Zuckerberg là sáng lập viên và cũng là Giám đốc điều hành (CEO) của mạng kết nối xã hội Facebook.

Sinh năm 1984 trong một gia đình Mỹ gốc Do Thái có cha là bác sĩ nha khoa và mẹ là nhà tâm lý học, nhưng chàng trai Mark Zuckerberg lại có niềm đam mê công nghệ mãnh liệt. Chính điều này đã đưa “chàng trai vàng” trong ngành công nghệ thông tin đi đến thành công như ngày hôm nay.

Từ những thử nghiệm ban đầu

Mark Zuckerberg bắt đầu tự học lập trình máy tính khi vẫn còn là một cậu bé học sinh cấp hai. Cậu bé Mark lúc đó thực sự quan tâm tới việc phát triển, nâng cấp những chương trình máy tính đặc biệt là những công cụ giao tiếp trên mạng và các trò chơi (game).

Khi bước vào Trường phổ thông Phillips Exeter, Mark đã xây dựng được chương trình có tính ứng dụng cao như chương trình để giúp những người công nhân làm việc trong văn phòng của cha mình giao tiếp được với nhau, phiên bản game “Risk” và chương trình nghe nhạc Synapse. Những sáng tạo bước đầu của Mark đã gây được sự chú ý của giới công nghệ thông tin ở Mỹ lúc bấy giờ, trong đó có Microsoft và American Online (AOL).

Cả hai tập đoàn lớn này đều cố gắng thuyết phục để mua được bản quyền chương trình Synapse và muốn Mark về làm việc cho mình song Mark lại quyết định theo học ở Đại học Harvard.

Đến năm 2002, Mark bắt đầu bước chân vào giảng đường của trường Đại học Harvard, một trường đại học uy tín hàng đầu của Mỹ. Tại đây, anh đã thực hiện nhiều dự án về công nghệ ưa thích. Mark thực hiện đề án Coursematch cho phép các sinh viên tham gia có thể xem danh sách những sinh viên khác cùng đăng ký học chung môn học với mình. Dự án này cũng được khá nhiều sinh viên trong trường hưởng ứng.

Ngày 4/2/2004, chỉ 2 năm sau đó, Mark cho ra đời Facebook mà theo Mark đánh giá lúc bấy giờ chỉ là một dự án để kỷ niệm thời gian học ở đây với tên gọi “Harvard-Thing”. Thật ra ý tưởng này của Mark được xuất phát từ hồi anh còn học trong trường trung học Phillips Exeter, chương trình cho phép người truy cập có thể tìm hiểu thông tin về các sinh viên, ngành học, giảng viên…

Chỉ sau 4 tiếng đồng hồ, có 450 lượt truy cập và nhà trường lập tức cắt đứt kết nối mạng Internet của Mark, đồng thời khiển trách cậu về tội xâm phạm an ninh mạng máy tính của trường, lấy cắp thông tin để post lên website của mình. Nhận lỗi lầm và không nản chí, Mark tiếp tục nghiên cứu và nâng cấp Facebook theo nguyên tắc thông tin trên website phải được sự đồng ý của cá nhân hay tổ chức và nhiều dự án kế tiếp.

Mark Zuckerberg từng thừa nhận chính chủ nhân Microsoft, tỷ phú Bill Gates là nguồn cảm hứng khiến cậu rời trường danh tiếng Harvard để thực hiện ước mơ của mình. Mọi chuyện bắt đầu khi năm 2004, Bill Gates đến Harvard để nói chuyện với các sinh viên.

Lúc đó, Bill Gates đã khuyến khích các sinh viên thực hiện dự án nào đó mà mình đam mê, thậm chí tạm ngưng việc học để theo đuổi ước mơ của mình như ông đã từng làm. Thế là Mark và người bạn cùng học Moskovitz quyết định rời Harvard đến Thung lũng Silicon, bang California để toàn tâm toàn ý cho Facebook.

Tới thành công với Facebook

Mark Zuckerberg chuyển tới Palo Alto, California với Moskovitz và vài người bạn khác. Họ thuê một căn nhà nhỏ vừa sống và làm văn phòng. Vào mùa hè năm 2004, Mark đã gặp Peter Thiel, người đã đầu tư vào công ty của Mark. Vậy là anh cũng có được văn phòng làm việc đầu tiên đúng nghĩa trong cả mùa hè năm nay.

Mark đã từng tâm sự, trong giai đoạn khó khăn này, nhóm đã có ý định quay trở lại Harvard vào mùa thu năm đó nhưng cuối cùng nhóm vẫn ở California. Và cho tới tận bây giờ, anh vẫn chưa trở lại trường để hoàn thành nốt chương trình đại học.

Facebook phát triển nhanh chóng. Số thành viên lên tới khoảng 60 triệu người và dự kiến sẽ lên tới con số 70 triệu vào cuối năm nay. Facebook là trang web về hình ảnh số một ở Mỹ với hơn 8,5 triệu tấm ảnh được đưa lên mạng mỗi ngày.

Có được điều này là nhờ Mark Zuckerberg và nhóm bạn của mình liên tục nâng cấp Facebook tạo thuận lợi cho người sử dụng. Ngày 5/6/2006, Facebook cho ra mắt công cụ News Feed cho phép người truy cập có thể nhận biết bạn bè của mình đang làm gì trên trang web này.

Đến ngày 24/5/2007, Mark tuyên bố về Facebook Platform, một chương trình nền tảng để phát triển các ứng dụng xã hội, trong đó có mạng kết nỗi xã hội Facebook. Tuyên bố này thực sự đã tạo được hưng phấn cũng như hứng thú cho nhóm của Mark.

Mark-Zuckerberg-FacebookChỉ trong vài tuần, hàng loạt ứng dụng đã được xây dựng và một vài trong số đó đã có hàng triệu người sử dụng. Cho đến nay, có tới hơn 400.000 người am hiểu về viết chương trình máy tính trên toàn thế giới tham gia vào công việc xây dựng những ứng dụng này cho Facebook Platform.

Chỉ 1 tháng sau đó, ngày 11/6/2007, Mark công bố về hệ thống quảng cáo xã hội ở Los Angeles. Một phần của chương trình Facebook Beacon sẽ cho phép mọi người chia sẻ thông tin với mạng lưới những người bạn trên Facebook thông qua những hoạt động trên các website khác. Chẳng hạn, một người giao bán trên eBay cũng có thể được nhóm bạn trên Facebook biết được hoạt động này thông qua News Feed.

Vào ngày 23/7/2008, Mark tiếp tục công bố về Facebook Connect, một phiên bản của Facebook Platform trong việc xây dựng các ứng dụng xã hội trên các website khác.

Trước sự phát triển chóng mặt của Facebook, một số đại gia trong ngành công nghệ thông tin trong đó có Yahoo, Viacom đã tìm cách thương lượng mua lại công ty này. Năm 2006, Giám đốc điều hành Yahoo là Terry Semel đã đánh tiếng mua Facebook với giá 1 tỉ USD nhưng Mark Zuckerberg và nhóm của mình không màng đến.

Con số đó trở nên nhỏ nhoi khi ngày 24/10/2007, Microsoft đã chi 240 triệu USD để mua lại 1,6% cổ phần của Facebook. Zuckerberg cùng toàn thể nhân viên Facebook hẳn phải hàm ơn Bill Gates vì như vậy, giá thị trường của Facebook lên tới 15 tỉ USD bởi theo nhiều chuyên gia giá thị trường thực tế của Facebook Inc (Công ty của Mark sáng lập) thấp hơn nhiều.

Trong vai trò giám đốc điều hành CEO của Facebook, Zuckerberg sở hữu 20% cổ phiếu công ty và trên lý thuyết, nếu bán hết số cổ phiếu của mình, anh chàng 23 tuổi này đã có trong tay 3 tỉ USD.

Giá trị của Facebook cứ tăng dần theo số lượng người sử dụng đông lên mỗi ngày mà một số chuyên gia cho rằng, tài sản của chàng trai trẻ Zuckerberg không chỉ 3 tỉ mà có thể lên đến 5 tỉ USD tùy thuộc vào sự thành công tới đây của Facebook trong việc xây dựng mạng lưới quảng cáo.

Cũng trong năm này, Mark Zuckerberg vinh dự nhận giải thưởng Best Startup CEO của Crunchie Award 2007.

Ước muốn trở lại Harvard

Cách đây 5 năm, khi mới chân ướt chân ráo tới California, Mark lập nghiệp với 2 bàn tay trắng: không tiền, không nhà cửa, không xe hơi… Giờ đây khi đã trở thành CEO của Facebook Inc, anh vẫn thích mặc quần jeans, đi xăng đan Adidas và có cuộc sống khá kín đáo.

Trong cuộc họp báo về vụ đầu tư của Microsoft, Mark Zuckerberg thậm chí cũng không tham dự mà để công việc lại cho những quan chức điều hành khác của Facebook. Điều này cũng dễ hiểu bởi trong một cuộc trả lời phỏng vấn tạp chí Forbes, Mark thổ lộ rằng anh không quan tâm tới việc liệu mình có trở thành CEO hay quản lý công ty hay không mà điều anh thực sự quan tâm đó là được làm những gì mình đam mê và tạo ra thứ gì thật hấp dẫn.

Mark vẫn sống trong một căn phòng thuê mà đồ đạc khá đơn giản và hàng ngày anh vẫn đạp xe đạp hoặc đi bộ đến tổng hành dinh Facebook gần căn hộ của mình.

Thành công nhiều nhưng dĩ nhiên Mark Zuckerberg cũng bắt đầu gặp không ít thách thức. Một số bạn học của Mark ở Harvard (hiện điều hành website đối lập ConnectU) đã đệ đơn kiện anh ăn cắp ý tưởng lập website kết nối xã hội khi giúp họ thiết lập một dự án hồi năm 2003.

Bên nguyên đơn – những người sáng lập website đối thủ ConnectU – buộc Zuckerberg tội vi phạm bản quyền, gian lận và ăn cắp bí mật thương mại, đồng thời yêu cầu đóng cửa Facebook. Facebook phản công bằng cách cáo buộc ConnectU đã xâm nhập trái phép vào cơ sở dữ liệu để ăn cắp hàng ngàn địa chỉ e-mail trong nỗ lực dụ người sử dụng Facebook sang ConnectU.

Ngoài vụ kiện, Mark Zuckerberg dự kiến sẽ đối mặt với nhiều sức ép sau vụ đầu tư của Microsoft. Điều này là khá dễ hiểu bởi khi có sự tham gia của tập đoàn đại gia này, các đối tác của Facebook sẽ khó có nhiều “chiêu” để thu được nhiều lợi ích hơn khi hợp tác. Hơn thế nữa, những hợp đồng quảng cáo trên Facebook có vẻ cũng bị hạn chế nhất định.

Thành công hay thất bại thì Mark Zuckerberg cũng hài lòng với những trải nghiệm và thành quả thu được của mình trong mấy năm qua. Chưa có thống kê chính thức nhưng nhiều nhà phân tích cho rằng, Zuckerberg là người giàu nhất nước Mỹ trong độ tuổi dưới 25.

Anh chàng này còn được đem ra so sánh với Chủ tịch Bill Gates của Microsoft và Tổng giám đốc Steve Jobs của Apple. Anh đã đi một chặng đường dài và đôi lúc anh muốn nghỉ ngơi. Mark Zuckerberg cho biết anh sẽ xem xét đến việc quay lại Harvard để hoàn thành nốt chương trình đại học.

Vị thế doanh nhân Việt Nam

Ngày 13/10, khoảng 600 doanh nhân được mời đến dự hội thảo “Một đội ngũ – Một tầm nhìn” do Hội doanh nghiệp Tp.HCM và báo Doanh nhân Sài Gòn tổ chức tại Tp.HCM. Các doanh nhân trong nước và nước ngoài đã chia sẻ những tâm tư và hoài bão để cùng nhau ra biển lớn.

Các doanh nhân tham gia hội thảo đều thể hiện mong muốn xâm nhập thị trường nước ngoài vì tất cả đều hiểu đó là cách tốt để đương đầu với thách thức trong thời kỳ hội nhập nếu như không muốn bị đè bẹp. Tuy nhiên, điều mà lãnh đạo các doanh nghiệp – bất kể thành lập lâu năm hay mới tham gia thị trường – nhận thức rõ, đó là ra biển lớn không nên một mình mà bằng sức mạnh của cả cộng đồng doanh nhân.

Sức mạnh và lợi ích của liên kết.

Song nhiều doanh nhân tự hỏi làm thế nào liên kết và mối liên kết đó được kết nối bằng gì? Rất nhiều doanh nhân đã băn khoăn với câu hỏi này. Không chỉ giới doanh nhân mà cả những nhà làm chính sách cũng có tâm trạng như thế. Họ băn khoăn không phải doanh nhân Việt Nam không muốn liên kết mà vì họ không biết cách liên kết. Lâu nay doanh nghiệp Việt Nam được cho là kém trong việc liên kết. Sỡ dĩ có điều này là vì họ sợ khi liên kết họ phải chia sẻ thông tin với doanh nghiệp khác.

Điều này có nghĩa họ phải phơi bày mọi thứ cho doanh nghiệp khác đôi khi kể cả bí mật và chiến lược kinh doanh của mình. Không biết liên kết sẽ mang lại lợi ích thực sự gì nhưng nhiều doanh nghiệp nghĩ thông tin của doanh nghiệp đã bị tiết lộ cho những doanh nghiệp khác. Đây cũng là nguyên nhân làm cho liên kết giữa cộng đồng doanh nhân Việt Nam khó được hình thành và phát triển.

“Đã liên kết thì phải biết chia sẻ với nhau, cho ra và thu vào. Tuy nhiên, trên hết doanh nhân cần phải biết sức mạnh và lợi ích của liên kết,” một doanh nhân phát biểu.

Ông Giảng Tư Trung, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổ hợp giáo dục PACE, nói rằng doanh nhân Việt Nam cần học người Nhật sự đoàn kết. Người Nhật có câu nói rằng một người Nhật đoàn kết là không nói xấu hay làm tổn hại đến người Nhật khác. doanh nghiệp Việt Nam đoàn kết là doanh nghiệp không nói xấu hay làm tổn hại đến doanh nghiệp Việt Nam khác.

Theo ông Trung, khi đoàn kết doanh nhân Việt Nam chia sẻ một hệ giá trị chung và thực hiện sứ mệnh của mình, đó là cải thiện vị trí của doanh nhân Việt Nam trên bản đồ doanh nhân toàn cầu. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, cho rằng doanh nhân phải đặt tinh thần dân tộc lên trên và coi sự nghiệp kinh doanh là sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Khi nghĩ như thế, theo ông, doanh nhân sẽ tạo được sự liên kết với nhau.

Chính tinh thần dân tộc là chất keo dính liên kết doanh nhân với doanh nhân trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, từ đó hình thành một đội ngũ và có thể thực hiện một tầm nhìn, một tầm nhìn không chỉ là quốc gia, khu vực mà là cả thế giới. Một tầm nhìn không phải chỉ cho 85 triệu dân trong nước mà cả 6 tỷ người trên hành tinh.

Nhiều doanh nhân Việt Nam cũng khao khát thay đổi vị trí của cộng đồng không chỉ trong khu vực mà toàn cầu.

Những điểm yếu và điểm mạnh của doanh nhân

Tại hội thảo nói chung chưa có được sự đồng thuận đâu là điểm mạnh của doanh nhân Việt Nam. Có doanh nhân cho rằng điểm mạnh của doanh nhân Việt Nam là hiểu biết sân nhà nhưng ý kiến này đã bị phản bác bởi một doanh nhân khác. Doanh nhân nước ngoài không hiểu thị trường Việt Nam nhưng điều đó không có nghĩa họ không bao giờ hiểu được và kết luận của lời phản bác đó là lợi thế sân nhà chỉ là một sự ngộ nhận.

Có doanh nhân đưa ra quan điểm thế mạnh của doanh nhân Việt Nam là sự siêng năng, ham học hỏi và học rất nhanh. Quan điểm này thuyết phục nhiều đồng nghiệp khác nhưng điểm mạnh này chưa đủ để doanh nhân thay đổi lịch sử nếu sự học chỉ phục vụ cho mục đích của từng doanh nhân thay vào đó phải là mục đích của cả cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.

Nói đến điểm yếu của doanh nhân Việt Nam, nhiều người cho rằng dễ hơn đề cập đến điểm mạnh. Doanh nhân Việt Nam không có nhiều kinh nghiệm trên thương trường vì hoàn cảnh đất nước, chỉ có khoảng hơn 20 năm đổi mới. Chính điều này mà doanh nhân Việt Nam thiếu đủ thứ, từ thiếu vốn, thiếu công nghệ đến thiếu lao động có tay nghề, thiếu thông tin, thiếu tầm nhìn xa, hay đổi lịch sử không phải một doanh nhân, một nhóm doanh nhân mà cả cộng đồng doanh nhân.

Lôi kéo cả một cộng đồng không phải dễ như triển khai một dự án kinh doanh bởi doanh nhân hiện nay có quá nhiều chí hướng, mối quan tâm và cả lý tưởng. Ông Giản Tư Trung phân loại doanh nhân Việt Nam theo ba nhóm: nhóm tự mãn, tự ti và nhóm tư tin. Nhóm doanh nhân tự tin thường tâm huyết với vận mệnh dễ đứng trong một hàng ngũ nhưng nhóm doanh nhân tự ti và tự mãn như những khối băng lâu năm không dễ tạo nên một lực lượng, một đội ngũ thay đổi lịch sử.

Dẫu vậy, nhiều người mong rằng một nhóm doanh nhân Việt Nam sẽ tiên phong vẽ lại bản đồ doanh nhân toàn cầu mà ở đó doanh nhân Việt Nam dễ được nhận diện như doanh nhân Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hoa Kỳ. Doanh nhân Việt Nam đã thực hiện được sứ mệnh từ chỗ thương gia không được công nhận trở thành đội ngũ được tôn vinh. Liệu doanh nhân Việt Nam có thực hiện được sứ mệnh tiếp theo đó là vẽ lại bản đồ doanh nhân toàn cầu?

Trần Anh computer và câu chuyện Rùa – Thỏ

Thành công của Trần Anh cũng giống như chuyện Thỏ và Rùa. Thỏ – các công ty máy tính ra đời trước – nghĩ rằng Rùa – Trần Anh – làm sao mà đuổi kịp mình nên cứ nhởn nhơ không để ý…

Làm là để học

Ngay từ khi còn là sinh viên trường ĐH Kinh tế quốc dân, chàng trai trẻ Trần Xuân Kiên đã luôn ấp ủ giấc mở làm giàu với suy nghĩ: “phi thương bất phú”. Nhưng anh lại sinh ra trong một gia đinh không có truyền thống kinh doanh, không đủ giàu có để có thể lập ngay công ty riêng. Để có được một thương hiệu Trần Anh – nhà cung cấp máy tính số 1 ở Hà Nội hiện nay, Kiên đã phải trải qua rất nhiều công việc, từ làm thủ kho cho một xưởng may, trưởng văn phòng đại diện cho công ty nước ngoài chuyên về lĩnh vực kinh doanh… chè, cán bộ ngân hàng nhà nước… Những kinh nghiệm quản lý, kiến thức kinh doanh thực tế có được đó đã giúp rất nhiều cho Trần Xuân Kiên trong con đường thành lập công ty sau này. Anh đúc kết: “Đối với tôi, mỗivị trí, mỗi công việc đều đem lại cho mình những bước trưởng thành. Tôi không quan tâm đến thu nhập nhiều lắm mà chỉ quan tâm có học được gì không, cái học được lớn nhất sau suốt quãng thời gian đi làm thuê chính là học được từ lãnh đạo mình những kinh nghiệm quản lý, những kiến thức kinh doanh thực tế…”.

Lý thuyết kinh doanh: “Chiến lược Đại dương xanh”

Thế rồi, thời điểm để anh tạo lập cho riêng mình một sự nghiệp cũng đến. Cách đây gần 6 năm, nhận thấy thị trường bán lẻ máy vi tính nói chung còn rất lộn xộn: chất lượng hàng hóa không được đảm bảo, giá cả thì “tùy mặt khách”, một số mặt hàng có tỷ lệ hàng giả, hàng nhái nhiều hơn hàng thật, đi bảo hành sản phẩm thì người tiêu dùng vừa được “bảo” vừa bị “hành”…; Trần Xuân Kiên đã quyết định thành lập một công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực máy tính với tiêu chí kinh doanh khác hẳn các công ty khác. Anh đưa ra phương châm “Phục vụ khách hàng như đang phục vụ chính bản thân chúng ta”.

Nói về những ngày gian khó thuở đầu, Kiên cho biết: “Đánh mất niềm tin thì dễ, nhưng lấy được nó thì lại không đơn giản. Tôi luôn xác định công ty phải đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu, tạo cho họ sự tin tưởng tuyệt đối khi đến mua hàng. Chúng tôi đã đưa cam kết bán hàng đúng giá, chỉ bán hàng chính hãng, thời gian bảo hành luôn dài hơn các đơn vị khác từ 1 đến 2 năm…, lập hẳn một trang Web để niêm yết giá bán công khai với nguồn gốc, chất lượng cụ thể để khách hàng tham khảo. Cùng với đó, chúng tôi liên tục đưa ra và thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết về chất lượng hàng hóa, chất lượng dịch vụ, chế độ bảo hành, chính sách “bán lẻ rẻ như bán buôn”… mang tính chất đột phá với thị trường máy tính”.

Vào thời điểm đó, cung cách kinh doanh của Trần Anh được coi như một “sự xuất hiện điên rồ” đối với thị trường kinh doanh bán lẻ máy vi tính tại Hà Nội. Nhưng Trần Xuân Kiên lại không nghĩ vậy: “Đó không phải là sự điên rồ. Thành công thường đến với những doanh nghiệp có những sáng kiến, cách làm mới mà các doanh nghiệp khác chưa làm. Trần Anh cũng vậy. Chúng tôi bước vào thị trường kinh doanh thiết bị máy tính muộn hơn so với các doanh nghiệp khác nên cần phải đưa ra những chính sách kinh doanh có yếu tố khác so với cách làm của họ. Tôi rất tâm đắc với nhận định của nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển: “Tư duy mạnh hơn kinh nghiệm, tốc độ mạnh hơn quy mô”.

Có thế nói, cách làm của Trần Anh thời kỳ đó cũng giống như Lý thuyết kinh doanh Chiến lược Đại dương xanh của hai nhà kinh tế học người Mỹ Philip Kotler và Michael Porter hiện đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm, bàn luận sôi nổi. Hiểu nôm na, theo chiến lược này, mỗi doanh nghiệp tự tìm các ngõ ngách của thị trường mà chưa doanh nghiệp nào khai thác, nơi không có cạnh tranh trực tiếp với các đối thủ cạnh tranh khác. Nền tảng quan trọng của chiến lược này là phải đổi mới, tự phân tích mình, phân tích đối thủ, để đổi mới giá trị sản phẩm và dịch vụ theo thị hiếu của người tiêu dùng mà các doanh nghiệp khác chưa tạo ra.

Đem thắc mắc ấy hỏi ông chủ trẻ Trần Xuân Kiên: “Liệu có phải anh đã đi trước so với các đồng nghiệp của mình?”. Anh lắc đầu quầy quậy: “Ngày đó, khi áp dụng chiến lược kinh doanh cho công ty mình, tôi không hề biết tới lý thuyết kinh doanh Chiến lược Đại dương xanh đó. Đơn giản tôi chỉ làm theo những kinh nghiệm mà mình có được, những phân tích, đánh giá sau khi nghiên cứu thị trường, tìm hiểu “đối thủ”. Những thành công ngày hôm nay được Kiên ví von như câu chuyện Thỏ và Rùa. Chuyện con Rùa chậm chạp nhưng lại chiến thắng còn giúp các công ty sinh sau đẻ muộn có thêm niềm tin khi phải đối mặt cạnh tranh với các công ty đối thủ. Kiên khẳng định: “Tương lai luôn ở phía trước và không bao giờ chờ đợi ai, thành công chỉ dành cho những ai liên tục đổi mới, sáng tạo và không ngừng vươn lên. Các công việc mà Trần Anh phải tiếp tục thực hiện ở phía trước đang còn rất nhiều và không thể thực hiện chậm trễ, dù chỉ 1 ngày”.

Warren Buffett – Con đường dẫn đến sự giàu có

Warren Edward Buffett, nhà đầu tư giá trị huyền thoại, đã biến một xưởng dệt đang ốm yếu trở thành một cỗ máy tài chính đầy sức mạnh mà sau này trở thành công ty cổ phần thành công nhất thế giới.

Được mệnh danh là “nhà tiên tri của Omaha” bởi sự tinh thông trong đầu tư của ông, Bufett đã tích lũy được một lượng của cải cá nhân hơn 62 tỷ đôla, đưa ông trở thành một trong những người dẫn đầu danh sách tỷ phú năm 2008 do tạp chí Forbes bình chọn. Ông đã tạo động lực cho rất nhiều tín đồ trung thành hàng năm đến Omaha để có cơ hội nghe ông nói chuyện tại cuộc họp thường niên ở Beckshire, một sự kiện được gán cho danh hiệu một cách hài hước là “lễ hội âm nhạc của chủ nghĩa tư bản – “Woodstock of Capitalism”.

Thời trai trẻ
Buffett ra đời vào ngày 30 tháng 8 năm 1930 tại Omaha, Nebraska, là người con thứ hai trong ba chị em và là con trai một của Howard và Leila Buffett,. Cha ông là người môi giới chứng khoán và đã từng là đại biểu quốc hội Mỹ cả bốn nhiệm kỳ. Howard tham gia các nhiệm kỳ không liên tục vào danh sách ứng cử viên của đảng Cộng Hòa, nhưng ông lại theo quan điểm tự do chủ nghĩa.

Kiếm tiền là một sở thích có từ rất sớm của Buffett, ông bán nước giải khát và có một chặng đường suôn sẻ. Mới 14 tuổi ông đã đầu tư những thứ kiếm được từ những nỗ lực này vào 40 mẫu đất, sau đó cho thuê lấy lãi. Bị cha thúc giục, ông nộp đơn xin vào học tại đại học Pennsylvania và đã được chấp nhận. Không thấy ấn tượng, Buffett đã rời trường đại học Pennsylvania sau hai năm và chuyển sang đại học Nebraska. Sau khi tốt nghiệp, cha ông một lần nữa thuyết phục về giá trị của việc học, và động viên ông theo đuổi học vị. Harvard đã từ chối Buffett nhưng Colombia thì nhận ông. Buffett học tập dưới sự hướng dẫn của Benjamin Graham, cha đẻ của thuyết đầu tư giá trị, và thời gian ở Colombia đã mang lại cho ông một giai đoạn sự nghiệp huyền thoại mặc dầu nó được khởi sự muộn. (Hãy đọc đầu tư giá trị trong cuốn “3 Nguyên tắc đầu tư bất tận nhất và Phương thức đầu tư của Warrent Buffet là gì?” – “The 3 Most Timeless Investment Principles and What Is Warren Buffett’s Investing Style?”.)

Sau khi tốt nghiệp, Graham đã từ chối thuê Buffett, thậm chí gợi ý ông không nên làm việc ở phố Wall. Cha của Buffett đồng ý với Graham, và thế là Buffett trở lại Omaha làm việc tại công ty chứng khoán của cha mình. Ông đã cưới Susan Thompson và họ bắt đầu cuộc sống gia đình. Một thời gian ngắn sau đó Graham thay đổi quan điểm và đề nghị Buffet đến làm việc ở New York.

Nền tảng của giá trị
Khi ở New York, Buffett có cơ hội xây dựng dựa trên những lý thuyết về đầu tư mà ông đã học được từ Graham ở Colombia. Đầu tư giá trị, theo Graham nghĩa là liên quan đến việc tìm kiếm cổ phần được bán hạ giá khác thường dưới mức giá trị tài sản, và ông gọi đó là “giá trị nội tại”. Buffett đã tiếp thu tinh hoa nhưng đã có sự quan tâm đến việc phát huy nó lên một bước xa hơn nữa. Không giống Graham, ông còn muốn xem xét cả bên ngoài những con số và tập trung vào đội ngũ quản lý của công ty cũng như lợi thế cạnh tranh của sản phẩm công ty trên thị trường. (Để biết thêm về “Giá trị nội tại – intrinsic value” xem “ Phân tích cơ bản: Đó là gì? – Fundamental Analysis: What is it?”).

Năm 1956, ông trở lại Omaha, mở công ty Buffett Associates và đã mua một căn nhà. Năm 1962, ở tuổi 30, ông đã là một triệu phú khi ông đã hợp lực với Charlie Munger. Sự cộng tác của họ cuối cùng đã có kết quả trong sự phát triển một triết lý đầu tư dựa vào quan điểm của Buffett về tìm kiếm ở đầu tư giá trị như một cái gì đó còn hơn là cố gắng moi móc vài đồng đôla cuối cùng của những thương vụ đang hấp hối.

Với triết lý đó, họ đã mua Berkshire Hathaway, một xưởng dệt đang sắp đóng cửa. Bắt đầu bằng việc vận dụng thuyết giá trị cổ điển của Braham để sau đó khi việc kinh doanh hé mở những tín hiệu hồi sinh thì nó trở thành những khoản đầu tư chiến lược dài hạn. Nguồn vốn sinh ra từ việc kinh doanh dệt may được sử dụng để thực hiện những khoản đầu tư khác. Cuối cùng chính cổ phần từ thương vụ ban đầu lại bị những khoản cổ phần khác làm cho lu mờ. Năm 1985, Buffett ngừng kinh doanh dệt may nhưng ông vẫn tiếp tục giữ tên công ty đó. Triết lý đầu tư của Buffett dựa trên nguyên tắc chỉ mua cổ phẩn của những công ty mà ông tin chắc rằng chúng được quản lý tốt và đang bị đánh giá thấp hơn giá trị của nó. Khi mua chứng khoán, ông có xu hướng nắm giữ chúng dường như vô thời hạn. Tất cả những công ty như Coca Cola, American Express và Gillette đều đáp ứng những tiêu chí của ông và được giữ lại trong danh mục đầu tư của Berkshire Hathaway trong nhiều năm. Trong nhiều trường hợp ông mua lại toàn bộ công ty nhưng vẫn để ban lãnh đạo công ty tiếp tục điều hành công việc kinh doanh hàng ngày. Một vài hãng nổi tiếng thuộc thể loại này trong đó có See’ Candies, Fruit of the Loom, Dairy Queen, The Pampered Chef và GEICO Auto Insurance.

Bí quyết của Buffett vẫn còn giữ nguyên vẹn đến khi cổ phiếu trong lĩnh vực công nghệ trở nên phổ biến. Thuộc tuýp người kiên định không thích công nghệ mới, Buffett đứng ngoài cuộc chơi những cổ phiếu ngành công nghệ suốt cuối thập niên 90. Giữ vững lập trường và khước từ đầu tư vào những công ty không đảm bảo niềm tin để ông ủy thác, Buffett đã nhận được sự coi thường của những chuyên gia phố Wall và bị nhiều người tẩy chay như một người đã hết thời. Dầu hiệu suy nhược trong lĩnh vực công nghệ xuất hiện khi hàng loạt vụ nổ bong bóng trong lĩnh vực kinh doanh mạng đã làm trắng tay nhiều chuyên gia đó. Còn lợi nhuận của Buffett khì tăng gấp đôi. (Để xem những sự kiện này hãy đọc The Greatest Market Craches, Sorting Out Cult Stock and Beavioral Finance: Herd Behavior).

Cuộc sống riêng
Mặc dù có tài sản tính bằng tiền tỷ nhưng Warren Buffett nổi tiếng thanh đạm. Ông vẫn sống trong căn hộ 5 phòng được mua năm 1958 với giá 31,000 đô la., uống Coca Cola và ăn tối ở những nhà hàng trong vùng nơi có những chiếc Hăm-bơ-gơ hay món thịt quay ông ưa thích. Trong thời gian dài ông né tránh ý tưởng mua phi cơ riêng. Cuối cùng thì ông cũng có một chiếc và ông đặt tên nó là “Indefensible – Không thể cưỡng nổi” – thể hiện sự tự phê bình một cách công khai về việc bỏ tiền ra mua chiếc phi cơ đó. (Hãy đọc cuốn Downshift To Simplify Your Life and Save Money The Scottish Way nếu bạn muốn tìm hiểu xem tiết kiệm thế nào để bạn có thể tiết kiệm được những khoản tiền lớn.)

Ông chung sống với Susan Thomson hơn 50 năm kể từ đám cưới năm 1952. Họ có ba người con Susie, Howard và Peter. Buffett và Susan ly thân năm 1977 nhưng vẫn duy trì hôn nhân đến khi bà qua đời năm 2004. Trước khi qua đời, Susan đã làm mối cho ông với Astrid Menks, một người hầu bàn. Buffett và Menks bắt đầu chung sống từ năm 1978 và sau đó chính thức cưới nhau vào tháng 8 năm 2006.

Tài sản thừa kế
Bạn sẽ sử dụng đồng tiền thế nào nếu bạn là nhà đầu tư thành công nhất thế giới? Nếu là Warren Buffett bạn sẽ đem cho đi. Buffett làm sửng sốt cả thế giới khi vào tháng 6 năm 2006 ông thông báo phần lớn tài sản của ông được góp vào quỹ từ thiện Bill & Melida Gates, nơi tập trung vào các vấn đề về sức khỏe nhân loại, hệ thống thư viện nước Mỹ và các trường học trên toàn thế giới. Nó là một quỹ từ thiện trong sáng nhất thế giới. (Hãy tìm hiểu người quyên góp thánh thiện nhất ở phố Wall trong cuốn The Saints Of Wall Street.)

Những khoản từ thiện sẽ được góp bằng cổ phiếu loại B của Berkshire Hathaway. Tổng giá trị quyên góp vào quỹ Gates là 10 triệu cổ phiếu. Nó được trích từ 5% tiền lãi chỉ đến khi Buffett chết hoặc khi quỹ không còn tuân theo những qui định sử dụng tiền hay những qui định mà Bill và Melinda Gates duy trì một cách tích cực cho những hoạt động của quỹ. Khoản từ thiện mà Buffett góp năm 2006 là 500,000 cổ phiếu với trị giá gần tới 1.5 tỷ đô la.

Tính theo giá trị cổ phiếu tháng 6 năm 2008, toàn bộ khoản từ thiện đã được góp vào quỹ Gates có giá trị vào khoảng 37 tỷ đô la. Buffett đánh giá giá trị cổ phần đó sẽ tiếp tục tăng thêm qua thời gian. Một khoản từ thiện bằng cổ phần khác sẽ được chia đều cho ba quỹ do những người con của Buffett điều hành. Thêm một khoản một triệu cổ phiếu sẽ chuyển đến một quỹ được thành lập để tỏ lòng kính trọng người vợ quá cố của ông.

Trong khi quỹ từ thiện Gates đã hẳn là một bất ngờ lớn, thì những nỗ lực từ thiện của Buffett chẳng có gì mới. Ông vẫn đang cống hiến tiền của trong suốt bốn năm qua cho quỹ Buffett, sau này được đổi tên là Susan Thomson Buffett. Quỹ này hỗ trợ quyền tự lựa chọn của người phụ nữ có kế hoạch hành động nhằm giảm bớt việc gia tăng sinh đẻ trong gia đình.

Buffett luôn vạch kế hoạch để dành phần lớn tài sản của mình làm từ thiện sau khi chết. Tinh hoa giá trị trong tâm hồn Buffett là: lý trí, quyết đoán, độc lập chính trị và nó vẫn đang chiếu sáng suốt đường đời của ông. Câu nói nổi tiếng của ông chính là: “Tôi biết những gì tôi làm, và điều đó tạo nên ý nghĩa để tiếp tục.”

Kết luận
Tương lai chứng kiến Buffett vẫn tiếp tục không ngừng quyên góp tiền làm từ thiện. Nói về vấn đề này, ông cho biết: “Tôi không phải là người say mê được giầu có như vua, đặc biệt khi mà sự lựa chọn là sáu tỷ người trên thế giới đang phải làm vật lộn với những công việc nghèo khó hơn nhiều trong cuộc sống còn chúng ta lại đang có cơ hội kiếm lợi từ đồng tiền.” (Theo thống kê của BBC ngày 26 tháng 6 năm 2006 thì Buffett đã quyên góp được 37 tỷ đô la làm từ thiện.)

Bầu Đức, từ gã chăn trâu đến sở hữu máy bay

Cái thằng bé chăn trâu của 40 năm trước hay ngồi vắt vẻo trên bờ tường sân bay Phù Cát (Bình Định) ngắm máy bay và thêu dệt ước mơ làm phi công vừa sở hữu máy bay riêng…

Chúng tôi gặp ông bầu nổi đình nổi đám ở phố núi, lúc nào cũng thấy ông mặc cái quần Jean sờn gối bạc thếch, khi thì ngồi quán cóc bụi bặm, lúc lại chễm chệ trong khách sạn năm sao bàn chuyện làm ăn với đối tác nước ngoài. Mới đây, ông Đoàn Nguyên Đức bỏ tiền túi ra mua chiếc máy bay làm tôi nhớ lại lúc ông ngậm ngùi kể mình ngồi xe ôm đi đấu giá miếng đất vài chục tỷ đồng ở Đà Nẵng. Hồi báo đăng tin ông có máy bay riêng, mấy bác nông dân ở quê cũ Nhơn Mỹ, (huyện An Nhơn, Bình Định) lại kháo nhau: “Bà con ơi, thằng Đức lại chơi ngông kìa…”.

Thuê máy bay cứu sống em vợ

Một sáng đọc báo, ông Đoàn Nguyên Đức chợt thấy cái tên mình nằm trong Top 10 người giàu nhất Việt Nam, hỏi thì ông chỉ cười cười: “Người ta thống kê tôi có 1.100 tỷ đồng mà mấy ai biết tôi… nợ đến 1.000 tỷ đồng rồi”. Không biết bầu Đức nói thật hay đùa nhưng cơ nghiệp của ông ngày càng phình to cũng từ những lời nói cứ tưởng như đùa ấy.

//daicaquach.tk/

Ngay cả mấy lần ông trễ chuyến bay chỉ để đi xem đội bóng Hoàng Anh Gia Lai đá cũng khiến ông băn khoăn rồi đùa với bạn bè sẽ mua một chiếc chỉ để chở mình đi xem đá banh. Thế rồi ông mua chiếc Beechcraft King Air 350 có 12 chỗ ngồi với giá bảy triệu USD. Thật ra bầu Đức không phải chơi ngông mua máy bay đi chơi mà ông muốn chủ động, thuận lợi và nhanh chóng hơn trong công việc ở thời buổi hiện đại này.

HLV Wenger cùng bầu Đức dùng cơm trưa tại CLB Arsenal
trong chuyến thăm Anh mới đây của ông Đức – Ảnh: VnExpress.

Nhưng bước ngoặt có tính quyết định đến việc ông mua máy bay từ khi nhờ nó ông cải tử hoàn sinh cho người em vợ của mình. Ba năm trước, em vợ ông bệnh nặng, bác sĩ Bệnh viện Chợ Rẫy hết phương cứu chữa đã khuyên người nhà nên chuyển bệnh nhân về Pleiku cho kịp trước khi nhắm mắt vì chẩn đoán chỉ còn vài giờ nữa thôi, sợ không kịp đến nhà… Nhìn em nằm thoi thóp, bầu Đức chợt nảy ra ý định thuê hẳn một chuyên cơ khứ hồi đưa bệnh nhân sang Singapore và “book” luôn nếu không cứu kịp thì sẵn máy bay ấy đưa xác về nhà luôn. Em vợ ông từ lúc chỉ còn là cái xác không hồn nhưng chỉ hơn hai giờ sau đã được chẩn đoán đúng bệnh và may mắn thoát chết trong gang tấc.

Lần khác, trước Tết năm ngoái, ông cần đi gấp từ TP.HCM đến Pleiku hẹn ký hợp đồng làm ăn nhưng không đào đâu ra vé máy bay. Rốt cuộc ông đành bấm bụng thuê hẳn một chuyến bay taxi và phải trả chi phí gấp đôi cho 60 chỗ ngồi chỉ với một giờ 15 phút bay.

Xây dựng thương hiệu nhờ bóng đá

Đoàn Nguyên Đức mê bóng đá khi còn nhỏ xíu hay theo mấy anh và đám bạn chăn trâu chia đôi đá bóng bằng quả bòng, quả bưởi. Có chút tiền, ông tài trợ cho bóng đá Gia Lai từ năm 1996 nhưng đề nghị Sở TDTT đừng nêu tên mình làm gì. Cũng như hồi SEA Games 1995 ở Thái Lan, ông từng lao từ khán đài xuống sân dúi vào tay Hồng Sơn 2.000 USD chỉ vì ông vui và yêu thích, thế thôi.

//daicaquach.tk/

Vài năm sau, Đoàn Nguyên Đức quyết định xin chuyển giao đội bóng Gia Lai, rồi áp dụng mô hình kinh doanh làm bóng đá. Ngay mùa đầu tiên 2001, Hoàng Anh Gia Lai nổi như cồn sau khi bầu Đức lặn lội sang Thái “săn” Kiatisak và hàng loạt thương vụ mua tuyển thủ quốc gia về chơi hạng nhất. Danh tiếng đội bóng nổi khắp khu vực.

Đến giờ ông tự đúc kết cái đội bóng mình bằng bài toán tài chính: “Ai nói làm bóng đá là chi tiền ra chứ riêng tôi thì bóng đá mang lại cho doanh nghiệp Hoàng Anh Gia Lai lợi nhuận rất lớn. Thử ngẫm xem, giả dụ doanh số của Hoàng Anh trước khi có đội bóng là 500 tỷ đồng/năm và kể từ khi có đội bóng nó tăng lũy tiến đều, đến hơn 1.000 tỷ đồng/năm rồi. Chi phí hơn 10% cho phép quảng cáo tôi sử dụng vào việc trả lương cho cầu thủ, khỏe lắm. Gạch Đồng Tâm cũng làm hệt như chúng tôi thôi…”.

//daicaquach.tk/

Giới chuyên môn khẩu phục bầu Đức mới nhảy vào bóng đá chuyên nghiệp vài năm đã thâu tóm hết mọi danh hiệu cao quý nhất nhưng tâm chưa phục do cái kiểu mạnh vì gạo mà đốt cháy giai đoạn. Cho đến lúc ông bắt tay với lò đào tạo cầu thủ trẻ danh tiếngArsenal (Anh) về phố núi huấn luyện, người ta mới trầm trồ thán phục cái tầm nhìn xa của ông. Không biết thật hay đùa, bầu Đức còn ấp ủ mua luôn cả CLBArsenal chứ không phải chỉ là 20% cổ phần như bây giờ.

//daicaquach.tk/

Sau hàng loạt bước hợp tác với Arsenal như: hợp tác đào tạo bóng đá trẻ, đặt bảng quảng cáo tại sân Emirates (của CLB Arsenal)…, bầu Đức đang “mơ” đến việc trở thành cổ đông lớn nhất của CLB Arsenal

Bài viết về ông Đoàn Nguyên Đức trên tờ Times điện tử

Tổng giám đốc một tập đoàn lừng lẫy ở Việt Nam mà trông Đoàn Nguyên Đức giống dân chơi hơn là một ông chủ. Bận bịu thế mà khi nghe bạn bè rủ rê… đá banh, bầu Đức đánh xe từ Quy Nhơn về phố núi đá chơi cho vui rồi uống rượu cần, nhảy nhót như một đứa trẻ… Nhìn cái cảnh ấy không ai nghĩ ông là tỷ phú hét ra lửa và mới đây được chính phủ Lào trân trọng đón nhận như một doanh nhân cứu cánh cho những công trình SEA Games của Lào và cho cả đội bóng U-23 Lào. Nghe đến đấy có người lại đùa vui: “Việt Nam hết gỗ rồi bây giờ bầu Đức lại chuyển hướng sang Lào”. Nghe thế ông chỉ cười trừ và nói: “Bên đó người ta nói Việt Nam giúp Lào tổ chức những công trình SEA Games chứ đâu nói bầu Đức giúp, thế là vui rồi…”.

//daicaquach.tk/

Chiếc Beechcraft King Air 350 của ông Đoàn Nguyên Đức ở sân bay

//daicaquach.tk/

NHỮNG GIAI THOẠI VÀ SỰ THẬT

Đi xe ôm đấu giá đất

Từng đi đấu giá đất ở Đà Nẵng giá trị trên 20 tỷ đồng thế mà lại đến “cửa quan” bằng… xe ôm. Mãi sau này, Bầu Đức mới phì cười thú thật: “Mấy anh bảo vệ thấy tôi mặc cái áo khoác tuềnh toàng lại đi xe ôm nên không cho vào, tôi phải năn nỉ hết hơi. Thật sự, tôi không cố tình đi xe ôm đến nhưng ở sân bay Đà Nẵng đón taxi lâu quá tôi mới nhảy đại lên xe ôm đi cho nhanh. Chuyện làm ăn không để lỡ thời cơ được.

Sau khi ông Đức đấu giá xong và thắng thì ông bí thư Tỉnh ủy Gia Lai bấy giờ nhận được cú điện thoại từ Đà Nẵng với câu hỏi: “Ông có biết “thằng” Đức là ai không?”. Miếng đất ấy bây giờ là khách sạn năm sao oách nhất Đà Nẵng.

Săn chất xám ngoại

Năm 1996, lần đầu tiên được sang Mỹ tham gia triển lãm sản phẩm, ông Đức ở trong một khách sạn năm sao chợt nghĩ đến sự phục vụ bặt thiệp của giới quản lý lẫn nhân viên tạp dịch khách sạn đều rất cần mẫn và yêu nghề. Ông Đức chợt nảy sinh ý tưởng táo bạo: “Tại sao mình không thuê người nước ngoài về quản lý hệ thống khách sạn của mình?”.

Bây giờ thì lực lượng giám đốc điều hành người nước ngoài đủ mọi quốc tịch làm việc cho Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã hơn 20 chuyên gia. Bầu Đức chia sẻ: “Tôi tự hào là một trong những người Việt Nam đầu tiên biến ý tưởng thuê các chuyên gia nước ngoài về làm việc dưới tay mình thành hiện thực. Trước đây, tôi hay băn khoăn việc nhân công Việt Nam phải đi làm công cho người nước ngoài thì tại sao mình không làm ngược lại được?”.

Làm giàu không khó: Vị trí của niềm tin

Ngày nay giới trẻ thường hay nói với nhau “sống bằng niềm tin” như để chỉ cái gì đó viển vông, phi thực tế. Nhưng trong kinh doanh, niềm tin là thứ không thể thiếu cho sự tồn tại cũng như phát triển của một doanh nghiệp.

Sau Chiến tranh thế giới thứ II, hãng điện tử Toshiba cũng phải chịu cảnh kinh doanh đình đốn; sản phẩm của họ tồn kho rất nhiều. Theo lẽ thường, khi lâm vào khó khăn, doanh nghiệp phải tính đến chuyện cắt giảm sản xuất, sa thải nhân công.

Nhưng nếu làm vậy, uy tín của Toshiba sẽ giảm sút rất nhiều, tạo kẽ hở cho các đối thủ cạnh tranh lợi dụng. Cuối cùng Tổng giám đốc Toshiba đã đi đến một quyết định táo bạo: Cắt giảm sản xuất bằng cách giảm thời gian làm việc xuống còn nửa ngày chứ không sa thải dù chỉ một công nhân. Trong khi đó, họ vẫn phát đủ 100% lương cho công nhân.

Sau một thời gian ngắn, những đơn đặt hàng lớn từ nước ngoài cùng với sự cân bằng trở lại của nền kinh tế đã giúp Toshiba vượt lên mạnh mẽ.

Ở Ý có một công ty kinh doanh bóng đèn điện nổi tiếng có tên là Solei, đang kinh doanh thuận lợi thì gặp phải khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế châu Âu. Không những sức mua hàng hóa giảm, việc cắt giảm lượng điện tiêu thụ cũng là nguyên nhân khiến bóng đèn điện của Solei không tiêu thụ được, một lượng vốn lớn bị ứ đọng.

Vốn có uy tín trên thị trường nên lúc này Solei vẫn nhận được một đơn đặt hàng lớn của một công ty Mỹ. Tuy nhiên, khi biết tin, các đối thủ cạnh tranh của Solei tìm cách nhảy vào tranh giành vị khách hàng này. Họ tung tin Solei không đủ năng lực sản xuất làm khách hàng Mỹ phân vân và Solei sẽ bị ép giá trên bàn đàm phán.

Mặc dù nền kinh tế đang ở vào thời điểm khó khăn, nhưng giám đốc của Solei tin rằng nhu cầu thắp đèn điện vẫn rất cao. Ông đã tìm đến một người bạn là giám đốc công ty chuyên sản xuất pin khô mua chịu 2 vạn pin khô, và mở đợt khuyến mãi lớn, tặng kèm 2 vạn pin khô cho khách hàng mua bóng đèn cũng giống như việc cung cấp nguồn điện cho khách hàng mặc dù rất nhỏ. Một mặt ông cho tập trung khôi phục sản xuất.

Đợt khuyến mãi lớn này đã làm khách hàng dồn vào mua sản phẩm của Solei. Vì thế việc buôn bán của công ty trở nên tấp nập. Đối tác Mỹ vì thế không còn e ngại gì về thực lực của Solei mà nhanh chóng ký kết hợp đồng.

Cũng nhờ đợt khuyến mãi này, sản phẩm tồn kho bán khá chạy. Công ty Solei đã thu hồi được vốn kịp đầu tư sản xuất lô hàng mới để xuất khẩu. Như vậy họ không chỉ thoát khỏi khủng hoảng mà còn nhận thêm nhiều đơn đặt hàng mới, và thương hiệu Solei nổi tiếng không chỉ tại Ý mà còn ở nhiều nước khác.

Nếu không có niềm tin và không tạo được niềm tin, làm sao các doanh nghiệp có thể đứng vững trước những khó khăn trở ngại! Các doanh nghiệp trong những dẫn chứng trên đã vượt qua cơn sóng gió thậm chí còn phát triển mạnh nhờ tạo được niềm tin.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.